5 nguyên tắc vàng với bệnh nhân tăng huyết áp

| mangyte
Audio:
Bệnh nhân tăng huyết áp cần chú ý: Bất cứ khi nào thấy các biểu hiện như mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, dị cảm, yếu chi, nói khó, đau tức ngực… đều phải kiểm tra ngay huyết áp xem có gì bất thường không.

1. Hậu quả của tăng huyết áp.

Tăng huyết áp được chia làm 3 cấp độ: tiền tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu, giới hạn từ 120 đến 139 mmHg, và huyết áp tâm trương giới hạn từ 80 đến 89 mmHg. Tăng huyết áp giai đoạn 1, là khi huyết áp tâm thu từ 140 đến 159 mmHg, và huyết áp tâm trương từ 90 đến 99 mmHg. Tăng huyết áp giai đoạn 2, là khi huyết áp tâm thu từ 160 mmHg, và huyết áp tâm trương từ trên 100 mmHg trở lên.

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu, gây tai biến mạch não, với tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao. Bên cạnh đó, tăng huyết áp còn gây nhiều biến chứng, như phồng tách động mạch chủ, (động mạch lớn nhất cơ thể chạy từ ngực xuống bụng), biến chứng về mắt, biến chứng suy thận, nhồi máu cơ tim, vân vân, nên kiểm soát huyết áp là mục tiêu phải đạt được, ở một bệnh nhân bị tăng huyết áp. Trong quá trình theo dõi điều trị, để đạt được mục tiêu này, người bệnh cần chú ý một số điểm dưới đây.

2. Chế độ điều trị và theo dõi.

Cần tuân thủ đúng chế độ điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc. Uống thuốc đúng vào một giờ nhất định trong ngày, vì có như vậy, mới đảm bảo được nồng độ thuốc đều đặn có trong máu, để kiểm soát tốt huyết áp. Uống đều đặn, tránh quên thuốc rồi lại uống “bù”.

Lập một cuốn sổ theo dõi huyết áp hàng ngày, hoặc cách ngày, (nếu huyết áp ổn định, thì có thể đo hàng tuần hoặc xa hơn). Ghi chép đầy đủ những cơn tăng huyết áp bất thường, cũng như những phản ứng của cơ thể xuất hiện, khi dùng thuốc hạ huyết áp như đau đầu, chóng mặt, phù mắt cá chân, ngứa, nổi ban, vân vân, để thông báo cho thầy thuốc điều chỉnh thuốc.

Không tự ý thay đổi thuốc, tự ý uống tăng liều thuốc, hoặc uống các loại thuốc khác theo “kinh nghiệm”, hoặc theo “đơn” của bệnh nhân khác, bởi vì cùng là bệnh tăng huyết áp, nhưng phương pháp và đáp ứng điều trị ở các đối tượng khác nhau, sẽ khác nhau, và không thể áp dụng đơn của người này cho người khác một cách tùy tiện được. Tuyệt đối không tự bỏ thuốc khi huyết áp đã về trị số bình thường, mà không có ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa.

3. Ăn uống thế nào?

Ăn nhạt là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì chỉ cần ăn nhạt, (lượng muối dưới 3g trên ngày, khoảng 1 thìa cà phê nhỏ gạt bằng), thì huyết áp có thể đã giảm được từ 20 đến 30 mmHg. Ăn mặn là một thói quen rất khó bỏ, nhất là đối với những người làm việc nặng nhọc, mất nhiều muối qua mồ hôi, và thực tế, cũng rất khó kiểm soát chặt chẽ lượng muối, từ thức ăn đưa vào cơ thể, vì vậy, người bệnh tăng huyết áp hoặc người chăm sóc, nấu ăn cho người bệnh cần nêm nếm hợp lý.

Ăn ít mỡ, đường, các loại thịt đỏ xem ra có vẻ dễ thực hiện hơn cả. Một chế độ ăn nhiều rau xanh, quả tươi, ngũ cốc nguyên hạt cũng nên được áp dụng, để góp phần duy trì một huyết áp ổn định.

Rượu bia tuy không phải là nguyên nhân gây tăng huyết áp, nhưng lại là yếu tố nguy cơ hàng đầu, trong việc khởi phát cơn tăng huyết áp, cũng như các biến chứng do tăng huyết áp, như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, gout, tăng triglyceride máu, nên uống rượu bia càng ít càng tốt.

4. Thay đổi lối sống.

Tập luyện đều đặn và phù hợp với sức khỏe, là rất quan trọng đối với người bị tăng huyết áp. Tập luyện giúp cho cơ thể khỏe mạnh, tăng tiêu thụ đường, giảm nguy cơ kháng insulin, ở bệnh nhân tiểu đường có tăng huyết áp, giúp duy trì một huyết áp ổn định hơn.

Bỏ thuốc lá là điều bắt buộc phải làm, nếu như người đã bị tăng huyết áp không muốn tử vong nhanh, do những tác hại của thuốc lá gây ra đối với cơ thể, như xơ vữa động mạch. Một hệ thống động mạch đã luôn phải chịu áp lực cao, (do huyết áp cao), lại bị xơ vữa, sẽ dễ dàng phình, tách và vỡ, gây xuất huyết não, vỡ phình động mạch chủ hết sức nguy hiểm.

Giữ cân bằng tâm lý bằng cách sống thoải mái, thư giãn, tránh căng thẳng lo âu cũng vô cùng hữu ích, bởi vì những stress là nguyên nhân khiến cho cơ thể mệt mỏi, tim đập nhanh, huyết áp tăng cao.

5. Khám sức khỏe đều đặn.

Có kế hoạch kiểm tra định kỳ những thông số cơ bản, như điện tim, đường máu, mỡ máu, chức năng gan thận, acide uric 6 tháng hoặc 1 năm một lần, tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu có rối loạn về các thông số trên, phải điều trị tốt để đưa về mức bình thường.

6. Dự phòng cấp hai.

Đối với bệnh nhân tăng huyết áp đã bị tai biến mạch não, việc dự phòng cấp hai, (sau khi đã bị tai biến), càng phải chặt chẽ hơn, bao gồm: kiểm soát tốt huyết áp, mỡ máu, đường máu, acide uric, uống thuốc chống kết tập tiểu cầu, vân vân, theo chỉ định của thầy thuốc.

Đặt chế độ gọi khẩn cấp ở điện thoại di động, để khi cần có thể liên lạc ngay với người thân, hoặc bác sĩ đang theo dõi điều trị trong những tình huống khẩn cấp.

Tiến sĩ, bác sĩ: Vũ Đức Định.

Từ khóa:

Tin Liên Quan